foto1
foto1
foto1
foto1
foto1

(0294)3855246 - 232
library@tvu.edu.vn
Liên hệ:



Đăng nhập

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Hồng Ửng.

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2017.

Mô tả: 42Tr, kích thước: 30cm. Số định danh: . Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

Đề tài: “Khảo sát hiệu quả dòng nấm Metarhizium anisopliae đối với bọ vòi voi Diocalandra frumenti (Coleoptera: Curculionidae) hại dừa tại tỉnh Trà Vinh” được thực hiện với mục tiêu xác định hiệu quả phòng trị của dòng nấm M.anisopliae đối với bọ vòi voi hại dừa tại tỉnh Trà Vinh trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng. Kết quả chọn được 03 dòng nấm xanh có khả năng giết chết thành trùng rất cao với độ hữu hiệu lên đến 100% tại thời điểm 15 ngày sau khi phun. Các dòng nấm xanh ở nồng độ 108 bào tử/ml và 109 bào tử/ml đều cho hiệu quả giết chết bọ vòi voi cao đối với thành trùng bọ vòi voi từ 5 ngày sau khi phun và kéo dài đến 13 ngày sau khi phun thì đạt độ hữu hiệu 80,5% đến 100% trong điều kiện phòng thí nghiệm. Hiệu quả lây lan của nấm xanh M. anisopliae ở cả hai phương pháp phun nấm có hiệu quả giết chết thành trùng khác biệt với đối chứng từ thời điểm 7 - 19 ngày với độ hữu hiệu tăng dần từ 40,3% đến 62,1% (đối với Ma1-TC1) và từ 43,3% đến 70,9% (đối với Ma1-CL1). Ngoài ra, các dòng nấm Ma-TC1, Ma-CL1 và Ma-CK phun trực tiếp lên thành trùng có thể được xem là có tiềm năng để làm giảm lượng trứng đẻ của trưởng thành bọ vòi voi (5,30, 3,00 và 3,90 trứng). Đồng thời, nấm xanh cũng làm giảm sự gây hại của bọ vòi voi trên buồng và trên trái dừa bắt đầu từ 21 ngày sau khi phun và duy trì đến 65 ngày sau khi phun.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lai Phước Sơn.

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2017.

Mô tả: 30Tr, kích thước: 30cm. Số định danh: . Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

Thử nghiệm nuôi lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793) trong hệ thống tuần hoàn nhằm tìm ra mô hình nuôi thích hợp cho sinh trưởng của lươn và góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Lươn có chiều dài và khối lượng trung bình là 22,28 ± 0,21 cm/con và 14,65 ± 0,48 g/con, được nuôi trong nghiệm thức tuần hoàn và đối chứng, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, trong 180 ngày. Lươn được cho ăn 80% cá tạp và 20% thức ăn viên (30% protein). Kết quả biến động của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, N-NH3-, N-NO2- và độ kiềm đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự tăng trưởng của lươn. Tỷ lệ sống ở nghiệm thức tuần hoàn khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với đối chứng đều đạt 96%. Tăng trưởng về khối lượng ở nghiệm thức tuần hoàn đạt (97,70 ± 9,04 g/con) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (80,67 ± 0,16 g/con) (p<0,05). Nghiệm thức tuần hoàn FCR dao động từ 2,33 - 3,35% khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nghiệm thức đối chứng đạt 2,41 - 3,30% (p>0,05). Lượng nước sử dụng bổ sung trong nghiệm thức tuần hoàn (3,12 m3/bể) chỉ bằng 1/10 so với nghiệm thức đối chứng (32,8 m3/bể) trong 180 ngày. Những kết quả này cho thấy hệ thống tuần hoàn hoàn toàn thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của lươn.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thùy Linh.

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2017.

Mô tả: 50Tr, kích thước: 30cm. Số định danh: . Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

Mục đích của các thí nghiệm nhằm xác định mức độ tối ưu của mức lysine-ME đến tăng trưởng, khối lượng cơ thể, chất lượng thân thịt của vịt Xiêm địa phương từ 5-12 tuần tuổi. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng xác định tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất và acid amin khảo sát ở chất thải của các khẩu phần thí nghiệm khác nhau của vịt Xiêm địa phương.

Kết quả thí nghiệm khẩu phần có mức 1,2% lysine và ME là 12,97 MJ/kgDM thức ăn nuôi vịt Xiêm địa phương giai đoạn 5-8 tuần tuổi cho thấy lượng DM tiêu thụ, tăng khối lượng, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và hầu hết các acid amin, nitơ tích lũy cao hơn (P<0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Vịt Xiêm địa phương ở giai đoạn 9-12 tuần tuổi được nuôi bằng khẩu phần có mức 1,1% lysine và ME là 13,81MJ/kg DM thức ăn cho kết quả về tăng khối lượng, khối lượng cơ thể, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và các acid amin, các giá trị thân thịt, nitơ tích lũy và hiệu quả kinh tế cao hơn (P<0,05).

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lý Thị Thu Lan.

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2017.

Mô tả: 59Tr, kích thước: 30cm. Số định danh: . Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

- Đề tài được thực hiện nhằm các mục tiêu (i) khảo sát đặc điểm ngoại hình của gà Đông Tảo theo ba phương thức nuôi khác nhau, (ii) xác định sự ảnh hưởng của các phương thức nuôi đến sinh trưởng và chất lượng thân thịt. Xác định các đặc điểm ngoại hình theo phương pháp đánh giá đặc điểm ngoại hình của gia cầm (Bùi Hữu Đoàn và ctv., 2011). Đánh giá khả năng sinh trưởng được xác định bằng thí nghiệm nuôi dưỡng và khảo sát chất lượng thân thịt bằng phương pháp AOAC (1990).

- Thí nghiệm nuôi dưỡng được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 phương thức nuôi và 3 lần lặp lại, để đánh giá ảnh hưởng của phương thức nuôi (trên nệm lót, nhốt trên lồng và bán chăn thả) lên chỉ số đo cơ thể và khả năng sinh trưởng của gà Đông Tảo từ 8-18 tuần tuổi. Mỗi đơn vị thí nghiệm có 5 gà trống và 5 gà mái. Gà được nuôi bằng thức ăn giống nhau; được ăn và uống tự do; được tiêm phòng một số bệnh thông thường. Mổ khảo sát 3 trống và 3 mái lúc 18 tuần tuổi cho mỗi nghiệm thức để xác định tỉ lệ các phần thân thịt và lấy 01 mẫu thịt ức/con để phân tích thành phần hóa học. Kết quả cho thấy hệ số chuyển hóa thức ăn và tăng khối lượng cơ thể của gà Đông Tảo được nuôi trên lồng là tốt nhất. Dài lườn và sâu ngực của gà Đông Tảo được nuôi bán chăn thả cao hơn gà được nuôi trên nệm lót và trong lồng. Tuy nhiên, tỉ lệ thân thịt, tỉ lệ thịt ức, tỉ lệ thịt đùi và thành phần hóa học thịt ức gà ở các phương thức nuôi không khác biệt.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Thạch Quách Quyền.

Trường Đại học Trà Vinh. Năm: 2014.

Mô tả: 38Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 664.0028 L304. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành trên gà Nòi nhằm so sánh nhiễm giun Ascaridia galli giữa các nghiệm thức thí nghiệm dưới tác dụng tẩy trừ giun tròn của nước chiết hạt cau và Levamisol. Tổng số có 72 gà Nòi được nuôi trong thí nghiệm và bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (mỗi lần lặp lại nuôi 8 gà Nòi). Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng lên tăng trọng của gà Nòi 12 – 14 tuần tuổi khác biệt có ý nghĩa thống kê (P = 0.04). Mức độ tăng trọng của gà Nòi trong nghiệm thức dùng nước chiết hạt cau tốt hơn so với nghiệm thức I. Dùng nước chiết hạt cau và Levamisol cho tỷ lệ nhiễm giun của gà Nòi giảm tại thời điểm 5 và 6 tuần so với 4 tuần tuổi. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm Ascaridia galli trên gà 6 tuần tuổi có ý nghĩa về thống kê (P < 0.05) giữa các nghiệm thức, giảm nhiều hơn trong nghiệm thức dùng nước chiết hạt cau.

Register to read more ...


Thư viện Trường Đại học Trà Vinh.

Số 126 - Nguyễn Thiện Thành, Khóm 4, phường 5, Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh.

Điện thoại: (+84).294.3855246 số nội bộ: 232) * Fax: (+84).294.3855217. Email: library@tvu.edu.vn

Giấy phép xuất bản số: 35/GP-TTDT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ TTTT) cấp ngày 05/04/2013

Mã nguồn: Joomla - Diablodesign.