foto1
foto1
foto1
foto1
foto1

(074)3855246 - 232
library@tvu.edu.vn
Liên hệ:



Đăng nhập

Chủ nhiệm đề tài: Trương Văn Hiểu.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2013

Mô tả: 33Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 636.2 h309. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Thí nghiệm in vitro được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 4 nghiệm thức và 5 lần lặp lại. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (LMK-0, LMK-10, LMK-20 và LMK-30) là 4 mức độ bổ sung LMK (0, 10; 20 và 30%) trong khẩu phần thức ăn cỏ voi. Kết quả tỉ lệ tiêu hóa chất OM cao nhất tại thời điểm 72h của ở nghiệm thức LMK-10 là 55,8%, kế đến LMK-0 là 55,4%, LMK-20 là 54,6% và thấp nhất LMK-30 là 51,6. Khí mê tan sinh ra (ml/g OM) của các nghiệm thức giảm dần theo mức độ bổ sung LMK trong khẩu phần, sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05); cao nhất ở nghiệm thức LMK-0 là 40,5 ml, kế đến LMK-10 là 39,8 ml và thấp nhất LMK-20 là 36,9 ml và LMK-30 là 36,6 ml.

Thí nghiệm in vivo được bố trí theo thể thức hình vuông latin (4 x 4) với 04 nghiệm thức, 4 giai đoạn và 4 con bò cái lai Sind, có trọng lượng trung bình là 140 ± 5kg. Mỗi giai đoạn thí nghiệm gồm 21 ngày, với 14 ngày nuôi thí nghi và 7 ngày lấy mẫu. Thí nghiệm bổ sung LMK (0, 10, 20 và 30%) trong khẩu phần cỏ voi tương ứng là LMK-0, LMK-10, LMK-20 và LMK-30. Kết quả lượng thức ăn ăn vào và tỉ lệ tiêu hóa DM, OM, CP, NDF ở các nghiệm thức tăng dần theo mức độ bổ sung LMK trong khẩu phần, cao nhất ở nghiệm thức LMK-20 và LMK-30; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Sự phát thải khí mê tan (lít/ngày) và (lít/kg DMI; OMI) của các nghiệm thức giảm dần theo mức độ bổ sung LMK trong khẩu phần, sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05). Khí mê tan phát thải trên bò tính theo (lít/kg OMI) cao nhất ở nghiệm thức LMK-0 là 38,34 lít, kế đến LMK-10 là 34,40 lít, nhưng thấp nhất LMK-20 là 28,86 lít và LMK-30 là 29,28 lít. Vậy bổ sung LMK 20% trong khẩu phần là tối ưu, không ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào, tỉ lệ tiêu hóa DM, OM và giảm phát thải khí mê tan sinh ra.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Trần Thế Nam.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2013

Mô tả: 55Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 577.6 N104. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Phòng chống ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề ưu tiên trong sự nghiệp phát triển bền vững của trường Đại học Trà Vinh. Đặc biệt, trên con đường trở thành một trường Đại học xanh, thì việc sử dụng những sức mạnh từ thiên nhiên để giải quyết các vấn đề ô nhiễm hiện tại là hết sức cần thiết. Do đó, nghiên cứu “Đánh giá khả năng sinh tồn và xử lý nước thải vô cơ của phòng thí nghiệm Khoa Hóa học Ứng dụng tại trường Đại học Trà Vinh của một số loài thực vật thủy sinh” là một trong những nhiệm vụ giúp cho trường Đại học Trà Vinh Xanh hơn và đẹp hơn.

Nghiên cứu đã khẳng định được sức mạnh của thiên nhiên với nhiều loài thực vật thủy sinh có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt của nước thải vô cơ phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó, chúng còn có khả năng hỗ trợ quá trình loại bỏ các chất độc tố có trong nước thải vô cơ phòng thí nghiệm như: Pb, Cd, Cr(VI), Cu, Mn, Fe. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra được 10 loài thực vật thủy sinh có khả năng áp dụng vào công nghệ xử lý nước thải vô cơ của phòng thí nghiệm trong tương lai: Rau Muống, Bèo Cám, Bèo Nhật Bản, Bèo Cái, Bèo Hoa Dâu, Trầu Bà, Bèo Tai Chuột, cây Nghể, Trường Sinh, Rong Đuôi Chồn. Với tỉ lệ pha loãng nồng độ nước thải vô cơ phòng thí nghiệm là 1/1000 và thời gian xử lý trong các bể là 10 ngày, thì hầu hết các hàm lượng độc tố đều giảm rất rõ rệt so với bể tham chiếu (không có thực vật thủy sinh). Chất lượng nước sau 10 ngày hầu hết đều đạt yêu cầu theo QCVN 40-2001 BTNMT.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Phan Chí Hiếu.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2014

Mô tả: 49Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 633.18 H309. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Hiện nay, hiện tượng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp, diện tích đất trồng lúa ngày càng thu hẹp. Yêu cầu chọn tạo ra các giống lúa có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn là vô cùng cấp bách. Do đó đề tài “Khảo sát và tuyển chọn một số giống lúa có khả năng chịu mặn tại các huyện ven biển của tỉnh Trà Vinh” được tiến hành với ứng dụng các phương pháp chọn lọc cổ điển kết hợp với sự hỗ trợ của dấu phân tử đang cho thấy hiệu quả chọn giống nhanh và chính xác. Trong nghiên cứu này, 12 giống lúa địa phương tỉnh Trà Vinh được đánh giá khả năng chịu mặn bằng cách sử dụng dung dịch Yoshida bổ sung muối NaCl ở nồng độ 0‰, 2‰, 4‰ và 6‰. Ba dấu phân tử SSR RM336, RM10825 và RM10793 đã được sử dụng để nhận diện nhanh các giống lúa liên kết với gen chịu mặn. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về tỷ lệ K+/Na+ trên lá cũng được phân tích để cho thấy mức độ giải độc Na+ trong từng giống. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống sót, chiều cao thân lá đều giảm mạnh khi nồng độ mặn tăng lên. Cặp mồi RM336 liên kết chặt với QTL qPH7.1s quyết định tính trạng chiều cao thân lá trong môi trường stress mặn và 2 cặp mồi RM10793 và RM10825 liên kết với QTL qSKC1, qSNK1 và qRNK1 quyết định tính trạng nồng độ K+, tỷ lệ K+/Na+ trên lá lúa. Các giống lúa có liên kết với cả ba cặp mồi SSR trên là: Chim Vàng, Ba Túc, ST5, Bạc Liêu, Lúa Sỏi, Một Bụi Đỏ, TV13 và Trắng Tép. Ba giống Lúa Sỏi, Một Bụi Đỏ và TV13 cho thấy các đặc tính chịu mặn vượt trội qua kết quả thanh lọc mặn trong dung dịch Yoshida có bổ sung nồng độ muối và việc xuất hiện các băng DNA tại vị trí của chuẩn kháng Pokkali. Thêm vào đó, kết quả phân tích tỷ lệ K+/Na+ trên lá cho thấy rằng, các giống: ST5, Lúa Sỏi, Một Bụi Đỏ, TV13 và Trắng Tép có khả năng giải độc ion Na+ hiệu quả nhất.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Văn Tuân.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2015

Mô tả: 79Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 370 T502. Vị trí: phòng đọc.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát thực trạng tính tích cực tự học của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh.

- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao tính tích cực tự học của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh.

Nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài:

+ Tính tích cực + Hoạt động học tập và hoạt động tự học.

+ Tính tích cực tự học và các biểu hiện của tính tích cực tự học.

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tự học của sinh viên

- Khảo sát thực trạng tính tích cực trong hoạt động tự học của sinh viên:

+ Tính tích cực tự học biểu hiện ở nhận thức của sinh viên về HĐ tự học.

+ Tính tích cực tự học biểu hiện ở thái độ của sinh viên đối với HĐ tự học.

+ Tính tích cực tự học biểu hiện ở hành vi tự học của sinh viên.

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tự học của sinh viên.

- Đề xuất một số biện pháp sư phạm góp phần nâng cao tính tích cực tự học của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Trúc Linh.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2015

Mô tả: 24Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 639.6 L312T305. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt:

Đề tài xây dựng quy trình ương giống cua đồng được thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh với các thí nghiệm như sau: ương cua đồng bằng giá thể bùn với các loại thức ăn khác nhau (thức ăn tôm sú, bột cá, bột đậu nành, và thức ăn ốc bươu vàng), và ương cua đồng bằng giá thể lưới và gạch ống với các loại thức ăn khác nhau (thức ăn tôm sú, bột cá, bột đậu nành, và thức ăn ốc bươu vàng). Thí nghiệm được bố trí trong thùng mốt xốp, diện tích 1.2x0.8x0.8m và 200 con cua vừa rời khỏi yếm cua mẹ. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Các yếu tố theo dõi là tốc độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về trọng lượng, chiều dài và tỉ lệ sống của cua con sau 60 ngày ương.

- Kết quả thí nghiệm của giá thể bùn với các loại thức ăn khác nhau:

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG) và tương đối (WG) ở nghiệm thức thức ăn bột đậu nành cho kết quả thấp nhất thể hiện lần lượt là (0.0009± 0.00004a ); (66.11 ± 5.53a); Nghiệm thức này khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức ốc bưu vàng (0.0034 ± 0.00048b); (239.53± 28.87b) và khác biệt rất có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức còn lại. Tăng trọng tuyệt đối và tương đối về chiều dài thể hiện như sau: nghiệm thức bột đậu nành lần lượt là (0.062 ± 0.016a); (156.8 ± 43.1a), nghiệm thức bột cá (0.086± 0.013ab); (283.33 ± 28.77a), nghiệm thức thức ăn tôm sú (0.11 ± 0.024b); (476.1 ± 104.6b), và nghiệm thức ốc bươu vàng (0.089 ± 0.01ab); (266.67 ± 28.87a). Tỉ lệ sống đã chỉ ra rằng ở nghiệm thức thức ăn tôm sú cho tỉ lệ sống cao nhất (42 ± 2.52b), kế đến là thức ăn bột cá (41 ± 3.6b) và bột đậu nành (35 ± 4.58b) và thấp nhất là ốc bưu vàng (20 ± 4a).

- Kết quả thí nghiệm của giá thể lưới và gạch ống với các loại thức ăn khác nhau cho thấy tốc độ tăng trưởng về khối lượng như sau: nghiệm thức thức ăn tôm sú cho tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối về khối lượng cao nhất (0.0092 ± 0.0004c); (764.1 ± 63.02c) và thấp nhất là nghiệm thức bột đậu nành (0.0046± 0.00055a ); (345.29 ± 32.93a). Đối với tốc độ tăng trưởng về chiều dài tuyệt đối và tương đối của nghiệm thức thức ăn tôm sú và bột cá là cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức còn lại. Về tỉ lệ sống của nghiệm thức bột đậu nành và ốc bươu vàng thấp hơn so với nghiệm thức bột cá và thức ăn tôm sú.

Register to read more ...

Thư viện Trường Đại học Trà Vinh.

Số 126 - Nguyễn Thiện Thành, Khóm 4, phường 5, Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh.

Mã nguồn: Joomla - Diablodesign.