foto1
foto1
foto1
foto1
foto1

(074)3855246 - 129
library@tvu.edu.vn
Liên hệ:



Đăng nhập

Chủ nhiệm đề tài: Thạch Quách Quyền.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2014.

Mô tả: 38Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 664.0028 L304. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành trên gà Nòi nhằm so sánh nhiễm giun Ascaridia galli giữa các nghiệm thức thí nghiệm dưới tác dụng tẩy trừ giun tròn của nước chiết hạt cau và Levamisol. Tổng số có 72 gà Nòi được nuôi trong thí nghiệm và bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (mỗi lần lặp lại nuôi 8 gà Nòi). Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng lên tăng trọng của gà Nòi 12 – 14 tuần tuổi khác biệt có ý nghĩa thống kê (P = 0.04). Mức độ tăng trọng của gà Nòi trong nghiệm thức dùng nước chiết hạt cau tốt hơn so với nghiệm thức I. Dùng nước chiết hạt cau và Levamisol cho tỷ lệ nhiễm giun của gà Nòi giảm tại thời điểm 5 và 6 tuần so với 4 tuần tuổi. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm Ascaridia galli trên gà 6 tuần tuổi có ý nghĩa về thống kê (P < 0.05) giữa các nghiệm thức, giảm nhiều hơn trong nghiệm thức dùng nước chiết hạt cau.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Sơn Thị Liêm, Đặng Văn Út.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2013.

Mô tả: 39Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 664.0028 L304. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, nâng cao giá trị kinh tế từ nguồn phế phẩm cam non để chiết xuất tinh dầu, cải thiện thu nhập cho người dân. Đó là mục tiêu mà nhóm hướng đến khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sản xuất vỏ cam non sấy khô”. Các loại thực vật chứa tinh dầu ở nước ta rất đa dạng và phong phú phục vụ cho nhiều mặt của cuộc sống, cũng như công tác nghiên cứu. Có nhiều loại quả, hạt chứa hàm lượng tinh dầu cao, trong đó họ quả citrus như: cam, chanh, quất,.. (tồn tại chủ yếu ở vỏ quả) có hàm lượng tinh dầu tương đối cao hơn các loại còn lại. Các công ty sản xuất tinh dầu chủ yếu thu lấy vỏ của những trái đã chín, vì ở giai đoạn này hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao nhất.

Nghiên cứu của nhóm cũng sử dụng vỏ cam sành loại cây ăn trái trồng phổ biến tại đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ cho công tác chiết xuất tinh dầu của các công ty, nhưng nguyên liệu sử dụng là vỏ cam non – phế phẩm từ các nhà vườn trồng cam trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bảo vệ hàm lượng tinh dầu khi thực hiện quá trình sấy với hai thí nghiệm chủ yếu sau:

- Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm acid citric nhằm hạn chế sự oxi hóa vỏ cam. Qua quá trình thực nghiệm đã chọn ra nồng độ acid citric 0.5% và thời gian ngâm 40 phút, ở thông số này khả năng kháng oxi hóa cao nhất.

- Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và thơi gian sấy đến chất lượng sản phẩm. Qua qua trình khảo nghiệm đã cọn ra nhiệt độ sấy 80 o C và thời gian sấy 6 giờ, hàm lượng tinh dầu đạt giá trị cao nhất khi thực hiện ở hai thông số trên.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Phi Hùng, Bùi Hoàng Nam.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2015.

Mô tả: 74Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 332.7 H513. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ ở xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập từ một cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi với tổng số hộ được khảo sát là 400. Nông hộ tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức chủ yếu là để phục vụ sản xuất, kinh doanh. Những nông hộ không tiếp cận được nguồn tín dụng chính thức với lý do chủ yếu là không có tài sản thế chấp và phải có xác nhận của địa phương, có những nông hộ được khảo sát cho rằng do thủ tục vay vốn rườm rà nên không tiếp cận được nguồn tín dụng chính thức. Thời gian chờ đợi từ khi lập hồ sơ xin vay cho tới khi được giải ngân đối với những khoản vay từ ngân hàng chính sách xã hội là tương đối lâu. Nguồn tín dụng chính thức mà nông hộ tiếp cận được chủ yếu là từ ngân hàng chính sách xã hội. Đối với những khoản vay từ các TCTD còn lại thì nông hộ chủ yếu tự tìm kiếm thông tin để vay. Đề tài ứng dụng mô hình Probit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, và sử dụng mô hình Tobit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức của nông hộ. Kết quả ước lượng cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức là dân tộc, diện tích đất, quan hệ xã hội và khả năng vay từ nguồn tín dụng phi chính thức. Khi nông hộ tiếp cận được với tín dụng chính thức thì các biến thu nhập bình quân năm, quan hệ xã hội, tài sản thế chấp và số lần vay ảnh hưởng đến số tiền vay được của nông hộ.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thùy Giang, Trần Hữu Toàn.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2014

Mô tả: 59Tr, kích thước: 21x29 cm. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Thí nghiệm được tiến hành tại trại thực nghiệm Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Trà Vinh với việc ủ chua thân cây bắp (TCB) và ngọn lá mía (NLM) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 3 lần lặp lại với 5 tỉ lệ khác nhau là 5 nghiệm thức (NT1: 100% NLM; NT2: 30% NLM và 70% TCB; NT3: 50% NLM và 50% TCB; NT4: 70% NLM và 30% TCB; NT5: 100% TCB).

Các nghiệm thức đều được bổ sung 3% rỉ mật đường và 0,5% NaCl để đánh giá màu sắc, mùi vị, độ mốc, đánh giá tính ngon miệng thông qua khả năng tiếp nhận thức ăn ủ chua của bò và phân tích: pH, VCK, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số ở 4 giai đoạn 0, 14, 21, 28 ngày.

Kết quả cho thấy TCB và NLM sau khi ủ có màu vàng lục và không mốc. Khả năng tiếp nhận thức ăn của bò tốt ở NT1, NT2, NT3, NT4. pH thay đổi đến giai đoạn 28 ngày trong khoảng 4,0 – 4,2. Vật chất khô, protein thô, xơ thô và tro ở nghiệm thức 100% TCB là cao nhất và giảm dần khi tỉ lệ bắp giảm dần. Các nghiệm thức có sự phối trộn giữa TCB và NLM cho thấy khi ủ 30 % NLM và 70% TCB có VCK, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số cao nhất. Tỉ lệ 30% NLM và 70% TCB là thích hợp nhất để ứng dụng.

Register to read more ...

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thương.

Nhà XB: Trường ĐH Trà Vinh. Năm XB: 2014

Mô tả: 52Tr, kích thước: 21x29 cm. Số định danh: 636.5 Th561. Vị trí: phòng đọc.

Tóm tắt

Thí nghiệm được tiến hành trên gà thả vườn nhằm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung tỏi khô và tỏi tươi lên khả năng tăng trưởng của gà thả vườn giai đoạn 04 đến 13 tuần tuổi. Thức ăn hỗn hợp được cho ăn theo định mức và được ghi nhận lại theo từng ngày. Số liệu về khối lượng cơ thể gà được ghi nhận hai tuần một lần. Thí nghiệm được bố trí theo nghiệm thức hoàn toàn ngẫu nhiên với nghiệm thức I không bổ sung tỏi, nghiệm thức II bổ sung 1% tỏi khô, nghiệm thức III bổ sung 1% tỏi tươi. Kết quả cho thấy việc bổ sung chế phẩm – tỏi có tác dụng rõ rệt trên khối lượng cơ thể gà thả vườn giai đoạn đầu 14 tuần tuổi (cuối 13 tuần tuổi) và có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở chỉ tiêu kỹ thuật này (P <0,05). Xét về TTBQ thì ở giai đoạn 4 – 6 tuần tuổi và 12 – đầu tuần tuổi 14 (cuối tuần tuổi 13) ta thấy có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê (P < 0,05) điều đó cũng nói lên tỏi khô và tỏi tươi có tác động đến tăng trọng bình quân của gà Nòi.

Qua mổ khảo sát các chỉ tiêu thân thịt lúc 13 tuần tuổi kết quả cho thấy có sự khác biệt về thống kê về tỷ lệ thịt ức dòng mái giữa các khẩu phần thí nghiệm (P < 0,05). Đối với khẩu phần có bổ sung tỏi theo hai loại là tươi và khô khi so sánh về năng suất cũng như các chỉ tiêu kỹ thuật chăn nuôi của gà thả vườn so với đối chứng thì chúng tôi thấy việc bổ sung tỏi tươi mang lại kết quả tốt nhất.

Register to read more ...

Thư viện Trường Đại học Trà Vinh.

Số 126 - Nguyễn Thiện Thành, Khóm 4, phường 5, Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh.

Mã nguồn: Joomla - Diablodesign.