foto1
foto1
foto1
foto1
foto1

(0294)3855246 - 232
library@tvu.edu.vn
Liên hệ:



Tác giả: Nguyễn Thị Ái Mỹ; TS. Lương Công Lý (người hướng dẫn).

Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm XB: 2016.

Mô tả: 100Tr, kích thước: 30cm. Số định danh: 352.140959786 M600. Vị trí: Phòng đọc.

Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở phân tích thực trạng năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở tỉnh Trà Vinh và nguyên nhân của nó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao NLTCTT cho đội ngũ cán bộ này trong giai đoạn hiện nay.

Register to read more ...

Tác giả: Trần Thị Thanh Hoa; TS. Lê Phụng Hoàng (người hướng dẫn khoa học).

Nhà xuất bản: Trường Đại học Sư phạm TP. HCM. Năm XB: 2014.

Mô tả: 117Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh: 327.43044 H401. Vị trí: Phòng đọc.

Mục tiêu của luận văn:

Đề tài được nghiên cứu nhằm là làm rõ mối quan hệ Đức-Pháp trong giai đoạn 1871-1919 thông qua vấn đề Alsace và Lorraine. Mặt khác, luận văn cũng muốn làm rõ vấn đề Alsace và Lorraine trong quan hệ Đức-Pháp không chỉ là vấn đề thị trường, nhân công hay nguyên nhiên liệu mà còn là vấn đề chủ quyền dân tộc.

Register to read more ...

Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng; GS. TS. Hồ Sĩ Quý (người hướng dẫn khoa học).

Nhà xuất bản: Học viện Khoa học Xã hội. Năm XB: 2015.

Mô tả: 101Tr. Kích thước: 30cm. Số định danh: 305 895932 D513. Vị trí: Phòng đọc.

Mục đích nghiên cứu của Luận án:

Từ góc độ triết học, luận án khảo sát, phân tích làm rõ việc giữ gìn và phát huy BSVH của cộng đồng người Khmer Nam Bộ với tính cách là một vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra từ đời sống của một cộng đồng lớn trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp giữ gìn và phát huy BSVH của cộng đồng này trong sự tác động mạnh mẽ của TCH hiện nay.

Register to read more ...

Tác giả: Trương Thị Hồng Giang; TS. Rainer Assé, ThS. Lê Thị Quỳnh Trâm. (Người hướng dẫn Khoa học).

Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Năm XB: 2015.

Mô tả: 79Tr, kích thước: 21x29 cm

Số định danh: 338.10959786 Gi106. Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Chính phủ đã đầu tư hai công trình lớn trên địa phận huyện Duyên Hải là công trình Luồng cho tàu có tải trọng lớn vào sông Hậu và Trung tâm Điện lực Duyên Hải. Việc thực hiện đồng loạt hai công trình lớn đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của những người dân bị thu hồi đất vốn đã quen với việc nhà nông. Duyên Hải cũng là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Trà Vinh về nuôi trồng thủy sản, nên phần lớn những hộ gia đình người dân nơi đây gắn với nghề nuôi tôm, đánh bắt, khai thác hải sản, làm muối, một số ít chăn nuôi, làm vườn, làm thuê và những hoạt động khác.

Để tìm hiểu thực trạng sinh kế của các hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Duyên Hải, tác giả sử dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững DFID, thực hiện khảo sát trực tiếp trên 64 hộ. Kết quả cho thấy, mặc dù phần đông các hộ gia đình có được khoản tiền bồi thường lớn so với mức thu nhập thông thường, nhưng không phải hộ gia đình nào cũng thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực. Một số hộ dân trở nên khá, giàu hơn trước từ việc sử dụng hiệu quả số tiền bồi thường như đầu tư phát triển kinh doanh dịch vụ, hoặc đầu tư mua đất mới để tiếp tục với nghề nông sau khi có số tiền lớn để trả hết nợ vay,…Tuy nhiên đa phần cuộc sống các hộ không có cải thiện, có hộ còn có thu nhập thấp hơn trước đây, việc làm bấp bênh, thiếu việc làm, thất nghiệp, thất mùa,… Nguyên nhân của tình trạng này là do trình độ người lao động còn thấp, khó thích nghi với công việc mới, hoặc sử dụng tiền bồi thường không hiệu quả. Chính quyền địa phương hỗ trợ gần như đầy đủ các chính sách cho người bị thu hồi đất, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao, nhất là công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động bị mất việc,…Ngoài ra, ô nhiễm môi trường cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của cộng đồng.

Để cải thiện tình trạng trên, tác giả đã gợi ý chính sách cần quan tâm nhằm hỗ trợ các hộ gia đình có khả năng tăng các tài sản sinh kế và có sinh kế bền vững sau khi thu hồi đất. Nếu các chính sách được thực thi, đây cũng là bước chuẩn bị tốt cho việc thu hồi đất để đầu tư phát triển Khu kinh tế Định An trong thời gian tới mà không gây ảnh hưởng nhiều đến đại bộ phận dân cư nơi đây.

Register to read more ...

Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Loan; TS. Đinh Công Khải (Người hướng dẫn Khoa học).

Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Năm XB: 2015.

Mô tả: 71Tr, kích thước: 21x29 cm

Số định danh: 362.5 L406. Vị trí: Phòng đọc.

Tóm tắt:

Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy Logistic kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu để tìm những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của người dân ở tỉnh Trà Vinh. Điểm nổi bật của đề tài là tập trung nghiên cứu sâu vào tác động của năm chính sách xóa đói giảm nghèo mà Tỉnh đã và đang áp dụng gồm: tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nhà ở, đất ở/sản xuất, trợ cấp y tế, giáo dục và tiền mặt khác. Số liệu thực hiện đề tài được tác giả thu thập trực tiếp từ 174 hộ nghèo/thoát nghèo trên 4 huyện mang nét đặc trưng về đặc điểm tự nhiên của Tỉnh: huyện Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú và Duyên Hải.

Kết quả phân tích cho thấy, chính sách tín dụng ưu đãi có ảnh hưởng lớn đến khả năng thoát nghèo. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nhận được hỗ trợ còn hạn chế và chính sách cũng thể hiện một số bất cập trong công tác triển khai như cấp bò có chất lượng kém, thiếu giám sát, bình xét hộ thoát nghèo chưa hợp lý. Nghiên cứu chưa phát hiện tác động của các chính sách như hỗ trợ nhà ở, đất ở/sản xuất, trợ cấp giáo dục, y tế và tiền mặt. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở/sản xuất lại có tác động ở một số địa bàn nhất định, cụ thể ở huyện Cầu Ngang. Và chính sách trợ cấp giáo dục lại làm giảm xác suất thoát nghèo, kết quả đi ngược lại mục tiêu, do khoản hỗ trợ còn khá thấp và lợi ích từ đầu tư giáo dục chưa được nhìn nhận đúng đắn từ phía hộ gia đình.

Ngoài ra, những nhân tố như trình độ học vấn, tuổi, dân tộc của chủ hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất bình quân và hộ có nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp có tác động lớn đến xác suất thoát nghèo, kết quả trên phù hợp với các nghiên cứu trước. Những hộ có chủ hộ là người dân tộc Khmer, trình độ học vấn cao, có tỷ lệ người phụ thuộc thấp, diện tích đất canh tác cao và có thu nhập khác ngoài nông nghiệp sẽ có cơ hội thoát nghèo cao hơn.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra năm khuyến nghị chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công xóa đói giảm nghèo của Tỉnh trong tương lai gồm: i) cần có chính sách riêng cho từng nhóm hộ nghèo/cận nghèo; ii) rà soát và điều chỉnh lại công tác thực thi chính sách tín dụng; iii) xây dựng tiêu chí bình xét hộ nghèo/thoát nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều; iv) cần có chính sách khuyến khích đầu tư để tạo thêm nhiều việc làm ; và v) nâng mức hỗ trợ chính sách trợ cấp giáo dục.

Register to read more ...

Thư viện Trường Đại học Trà Vinh.

Số 126 - Nguyễn Thiện Thành, Khóm 4, phường 5, Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh.

Mã nguồn: Joomla - Diablodesign.